гороскоп совместимость мужчина рыба женщина скорпион совместимость гороскоп гороскоп для рака на завтра неделю гороскоп стрельца на 2017 женщина от василисы володиной гороскоп рыбы женщина на 2017 год

Máy tính bảng Máy tính bảng giá rẻ

dao tao ke toan

| Chúc Mừng Cộng Đoàn | Tin tức | Thư đi, tin lại | Diễn đàn | Tâm tình | Giới thiệu | Góc vui cười. |
 

Home
Bùi Chu Ngày Nay
Bùi Chu Ngày Xưa
Những Người Đáng Nhớ
Kể Chuyện Ngày Xưa
Lịch sử Giáo Xứ Bùi Chu
Giáo Dục Con Cái
Sức Khỏe
Chúc Mừng
Chia Buồn
Trang Thơ
Sống Đạo Giữa Đời
Tin Mừng
Chuyện bốn phương
Trang đặc biệt.
Hình ảnh về Bùi chu
Tuổi trẻ hôm nay

 

Lượt người truy cập

 

Đất trời, non nước, Đảo quốc Vanuatu, kỳ 2. Thuỵ Miên.

Đất trời, non nước, Đảo quốc Vanuatu, kỳ 2. Thuỵ Miên.

Thành phố Port Vila và chợ bán trái cây

Ngày hôm sau, thứ sáu 21/11/08. Chúng tôi ra phố để quan sát sinh hoạt của thành phố. Trước hết chúng tôi đi thăm quan một vài dãy phố, người du khách đông nghẹt, chen lẫn với người dân bản xứ. Cách dáng đi đứng của khách bộ hành thong thả. Các tòa nhà cao vài ba tầng, Các ngân hàng như ANZ, Westpac, chiếm vị trí ở trung tâm thành phố, các tiệm bán quần áo, shopping giống như ở nước Úc, bót cảnh sát, tòa Đại xứ Úc nằm phía trên đồi với lá cờ Úc đang vẫy bay trong gió như chào đón chúng tôi, người dân Úc đến du lịch nơi đây. Các tiệm Tàu bán thực phẩm Á châu, quần áo, và đồ gia dụng rất lớn. Chen lẫn với các nhà hàng nằm dọc theo các phố chính. Thỉnh thoảng chúng tôi có trông thấy người nói tiếng Việt, giọng miền bắc đi ngang qua, nhìn chúng tôi thân thiện như muốn nói rằng chúng ta là người đồng hương phải không. Thành phố tuy đẹp và đầy nét tây phương nhưng đi chẳng mấy chốc là hết phố chính. Thành phố Port Vila thuộc đảo Êfatê, nó nằm trong vịnh Mele Bay. Dân số khoảng 40,000 người, với diện tích của đảo rộng khoảng 900km2. Êfatê là hải đảo lớn thứ nhì, sau hải đảo Espiritu Santo.

Thủ tướng là ông Ham Lini và Tổng thống là ông Kalkot Mataskelekele được dân bầu lên từ năm 2004. Nước Vanuatu được trao trả độc lập từ ngày 30/7/1980, là một nước theo thể chế Cộng Hòa nằm trong khối Thịnh Vượng Chung Các Quốc Gia. Với 83 đảo và dân số hiện nay khỏang 220,000 người. Các hải đảo của Vanuatu nằm giữa New Caledonia và Fiji ở nam Thái bình Dương.

Sau khi dạo quanh một vòng các đường phố chính. Chúng tôi đi đến chợ bán trái cây, nằm ngay trung tâm của thành phố Port vila này. Điều làm tôi ngạc nhiên nhất là tại chợ này có thật nhiều loại rau, củ, trái cây giống như ở Việt nam ta ngày xưa. Các củ sắn mì to được đựng trong giỏ đan bằng lá dừa, giỏ củ mì có thể cân nặng cả chục kílô, bán với giá 300 tiền Vatu (Vanuatu). Hôm ấy là ngày 21/11/08. Tôi đổi 100$ đô Úc được 7300$ Vatu. Như thế 1$ đô Úc = 73$ Vatu. Đầu óc tôi hôm ấy phải làm việc qúa mức vì giá tiền, thì mới biết được giá bán các loại rau qủa, trái cây ở đây thật là qúa rẻ so với giá cả ở bên Úc. Những bó rau muống, rau mùng tơi to, xanh tươi. Những trái dừa non đầy ắp nước ngọt, cùi ăn rất mềm. Từng xâu cua đá bán với giá 100$ Vatu, Những con cua dừa to với giá bán 3000$ Vatu. Đu đủ, soài, những loại chuối to nhỏ bán từng quầy, được bày bán ngay đầu chợ. Phía trong chợ có vài quán bán cơm với thịt gà, thịt heo, cá. Giữa chợ có hai, ba hàng bán phần ăn trưa, món ăn thật đặc biệt khiến tôi chú ý vì đông khách. Chỗ bán phần ăn trưa này đặc biệt vì các phần ăn được gói bằng lá chuối, thức ăn là 1/2 củ khoai môn, một củ sắn mì, một con cá nhỏ hấp, hay một cái cánh gà, một vài cành lá rau cải luộc. Chúng được gói lại và giao cho người mua. Tôi thấy người mua phần ăn ấy, một tay họ đã cầm sẵn một quả dừa gọt vỏ hay một qủa soài chín. Người bản xứ ở đây ăn uống qúa dễ dãi, không cầu kỳ. Chủ yếu họ ăn và uống nước dừa là chính, nếu có thêm miếng khoai môn, củ sắn mì là đủ phần ăn trưa. Một điều lạ nữa là người bán hàng ngoài chợ toàn là đàn bà, họ bế cả con ra ngồi ngoài chợ để bán hàng cả ngày cả đêm. Họ thật thà, viết giá tiền đặt ở trên những hàng hóa muốn bán, không trả giá kỳ kèo như ở Úc. Ai thích thì mua, không thì thôi. Người bản xứ ở đây có màu da đen sậm, tóc quăn, to lớn và khoẻ mạnh, họ thuộc gốc người Melanesian. Tôi đi quan sát một vòng chợ, chỗ giáp với công viên, thấy có một bến tàu chở du khách đi qua đảo Iririki, trên bờ có chỗ bán vé để du khách mua vé, đi dạo chơi bằng máy bay trực thăng. Phía bên kia chợ là bến xe buýt và bãi đậu của taxi. Nói đến xe buýt, tôi cứ tưởng nó phải to lớn như ở Úc, nhưng thật ra nó chỉ là loại xe Van, của hãng Toyota gắn thêm ghế, như hồi chúng tôi chở người đi hái trái cây vào những năm 1984- 1987. Các chiếc xe bus này mang bảng số bắt đầu bằng chữ B rồi đến con số, thí dụ như: B2450. Khác với xe taxi, mang bảng số bắt đầu bằng chữ T. Hầu hết những người lái xe là đàn ông. Các tài xế chào nhau và trao đổi chuyện trò với nhau bằng cách giơ bàn tay và ra hiệu bằng ngón tay, khi họ gặp nhau theo hướng ngược chiều. Trên đường phố, ngoài số khách du lịch, tôi còn thấy nhiều thanh niên bản xứ ngồi ở các công viên, tay cầm trái dừa để uống nước và khi uống hết nước thì họ đập vỡ trái dừa để ăn cùi dừa. Có khi gặp họ ngồi trên các vỉa hè để nhìn ngắm người đi phố, họ không có vẻ gì là thành phần công dân xấu hay dân trộm cắp và có lẽ họ giống như trong câu chuyện Phúc âm nói về những người thợ làm vườn. Họ ngồi chơi giữa phố chợ, giữa đường vì không có ai mướn họ, hoặc có thể vì họ chẳng muốn làm. Ăn là bao nhiêu mà làm chi cho mệt, chết có mang theo được đâu mà phải vất vả quá sức như vậy, củ khoai môn, qủa dừa cũng thành bữa cơm. Họ có thể ăn sống chứ chẳng cần luộc chín, với tay hái một trái soài mọc sẵn bên vệ đường, bẻ một vài trái dứa, thế là no bụng. Tối đến muốn thư giãn, thì tìm đến quán “đèn vàng” để uống một vài chén Kava, loại nước biến chế từ một loại rễ cây, lá nó giống như lá tiêu, lá ăn trầu, lá trầu ông, trầu bà. Nước đục như nước bùn, uống vào thấy vị gần giống cây sắn dây, nhưng chỉ trong giây lát, ta sẽ cảm thấy tê môi, tê lưỡi. Anh em chúng tôi cũng mua về 1 lít Kava gía 1000$ Vatu, để uống cho gọi là giao hữu với dân Vanuatu. Kava uống có cái hay của nó là làm con người cảm thấy thoải mái, bắp thịt thư giãn, nhưng chưa đủ mạnh để làm anh em chúng tôi say, nên chúng tôi đành mượn thêm chai rượu Cognac, để ru mình vào giấc ngủ say đêm hôm ấy.

Thời tiết ở bên Port Vila này, gần giống như Sài Gòn, độ ẩm rất cao, trung bình từ 43 đến

65%. Trong phòng ngủ phải mở máy lạnh thì mới thấy dễ chịu giống như ở Melbourne.

Thế nhưng, chúng tôi đâu có ngờ vì mở máy lạnh cả đêm, nên độ ẩm cũng bị tụt xuống thấp, nên máy làm nước lạnh không có đủ độ ẩm để làm đầy bình nước lạnh cho ngày hôm sau. Cái máy làm nước lạnh và nóng này giống như cái máy lọc nước, làm thành nước lạnh và nóng như ở bên Úc, chỉ khác một điều là nó tự hút không khí có sẵn độ ẩm của hơi nước rồi từ đó ép hơi nước thành nước, lọc qua bộ phận lọc nước rồi chuyển qua hệ thống làm lạnh hoặc chuyển qua bộ phận đun nóng nước, chứ không phải bắt ống nước hay chứa nước từ trong bình đựng nước như ở bên Úc. Cái máy lọc nước này được chế tạo từ một công ty bên Úc, để cho các nước vùng nhiệt đới xử dụng. Theo tôi thì ta cứ việc đun nước sôi mà dùng nếu cần nước nóng, hay để lạnh rồi lọc nước để uống là xong. Hệ thống nước uống được cung cấp tận nhà. Nhưng hệ thống gas thì vẫn còn xài bình gas. Hệ thống rác, nói chung thì người dân tập chung rác lại một địa điểm của từng khu và xe rác sẽ đến hốt rác hàng tuần, vì khí hậu nóng nên ruồi bu, kiến đỗ, tạo mùi hôi tanh khó có thể tránh được.

 

Nghĩa trang của thành phố Port Vila

Chúng tôi đến thăm Vanuatu vào tháng 11, tháng cầu cho các linh hồn. Chính vì thế mà chúng tôi quyết định đi thăm viếng nghĩa trang của thành phố Vanuatu, nơi chôn cất những bậc tiền nhân Việt Nam đã đến Vanuatu vào thời người Pháp mộ phu, năm 1920. Trước hết là để tỏ lòng ngưỡng phục các đấng bậc tiền nhân đã hy sinh vì tương lai con cháu, có nhiều người đã nằm xuống vì kiệt sức, hay bị đánh đập tàn nhẫn bởi bọn cai người Pháp, hoặc bị xử tử vì dám chống lại bất công, đòi quyền tự do và công lý cho dân ta thời ấy. Sau nữa để đọc kinh và thắp nén nhang cho những ngôi mộ mà giờ đây con cháu không còn ở dây nữa để chăm sóc mộ phần. Chúng tôi có hỏi thăm người cháu, nhưng vì bận rộn công việc nên anh ta cũng không biết nơi chôn cất những người Việt thời Pháp mộ phu từ miền bắc đến làm việc tại Vanuatu. Cũng may, người cháu của chúng tôi có quen với con của một gia đinh, mà ông bà ta đã được sinh ra và lớn lên tại thành phố này. Ông bà Nguyễn văn Đại rất vui mừng và ông ta đã nhiệt tình hướng dẫn chúng tôi, sáng ngày hôm sau đến nghĩa trang, nơi chôn cất những người Việt Nam đã đến làm việc và bỏ mình tại xứ Vanuatu này.

Nghĩa trang nằm trong một khu đất rộng rãi, yên tịnh, cây cối chung quanh nghĩa trang xanh tươi. Giữa nghĩa trang có một cây đa cổ thụ và gần đó có một ngôi nhà dành cho nhân viên chăm sóc nghĩa trang. Nghĩa trang chia thành từng khu, khu dành cho người Pháp, và khu dành chôn người Việt Nam được vây quanh bằng hàng rào gỗ, để ngăn cản súc vật vào ăn cỏ và làm hư hại mộ phần. Tại nơi này, chúng tôi tập họp tại khán đài, đọc kinh, thắp nhang và dâng phó các linh hồn đã yên nghỉ nơi đây trong tay Chúa. Chúng tôi được bác Đại hướng dẫn đến mộ phần của ông cụ thân sinh ra bác, đến thăm viếng các mộ phần của gia tộc họ Đinh, được chôn cất theo một dãy dài dọc theo hàng rào của phía sau khán đài. Nghĩa trang tuy nhỏ nhưng được chăm sóc rất kỹ lưỡng và được chọn trên một khoảng đất trống tuyệt đẹp, đầy tiện lợi về phong thủy, có lẽ vì thế mà con cháu của các cụ, bây giờ làm ăn trở nên phát đạt, giàu có. Chúng tôi được bác Đại hướng dẫn qua phía đối diện khu nghĩa trang của người Việt Nam. Nằm ngay cạnh đường đi chính giữa của nghĩa trang có một ngôi mộ chôn tập thể của sáu người Việt Nam, đã anh dũng chết vì dám đứng lên đòi lại tự do và công lý cho người phu mộ thời ấy. Chúng tôi thấy trên bảng mộ bia có ghi dấu thánh giá, tò mò nhưng chưa kịp hỏi, thì chúng tôi đã được bác Đại giải thích lý do, vì trước khi chết 6 người này đã theo đạo Công giáo và được một cha người Pháp rửa tội trước khi bị hành hình. Không khi của nghĩa trang buồn, lòng chúng tôi như se lại, chợt thương cho thân phận của chính mình, một mai rồi cũng được chôn cất tại xứ lạ quê người trên đất Úc.

 

Bãi biển Eton

Sau khi đã thăm viếng nghĩa trang vào buổi sáng. Chúng tôi đi tắm biển Eton và buổi trưa ngày hôm thứ bảy 22/11/08 . Bãi biển Eton nằm về phía bắc của đảo Êfatê. Cách độ 1 giờ lái xe. Con đường tráng nhựa từ nhà của người cháu chúng tôi chẳng bao lâu đã được nối tiếp bằng con đường đất chạy kéo dài đến tận bãi biển. Nó chạy băng qua những khu rừng, những cánh đồng cỏ xanh tươi, những đồn điền trồng dừa bát ngát, những khu làng mạc của người bản xứ. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp một vài chiếc xe của người bản xứ đi ngược chiều, họ vẫy tay chào chúng tôi một cách thân thiện.

Bãi biển thiên nhiên và hoang sơ như chưa được khai thác đúng mức cho du khách giống như kiểu ở Việt Nam. Cũng có những băng ghế bằng gỗ, nhà lợp lá dùng để trú mưa, nhà tắm, nhà vệ sinh, và những bóng cây rợp mát. Những bãi cát mịn, đủ chỗ làm sân cho người ưa thích môn bóng đá làm nơi đá banh. Mọi người đều xuống tắm vì nước rất ấm, chỉ trừ mình tôi, ngồi trên bờ trông giữ đồ đạc. Bãi biển này, có suối nước ngọt chảy từ trong đất liền chảy ra biển. Nó tạo thành những vùng nước rộng to, đủ để cho người ta tắm nước suối sau khi tắm biển. Người dân trong làng, cắt cử người giữ vệ sinh bãi biển này rất sạch sẽ. Họ hiền hòa, trò chuyện vui vẻ với chúng tôi như người bạn thân quen từ lâu, làm chúng tôi rất thán phục. Sau một buổi tắm biển và hưởng gió trong sạch, chúng tôi lên xe ra về để kịp giờ đi lễ chiều thứ bảy lúc sáu giờ chiều. Nhà thờ nằm gần khu phố. Thánh lễ do cha người bản xứ dâng lễ bằng tiếng Anh. Nhà thờ thô sơ mái lợp bằng tôn, đang được sơn lại phía bên trong. Tôi tò mò đếm cả trẻ em lẫn người lớn, tính cả Cha xứ và 2 bà sơ được gần 50 người. Nghe người cháu tôi nói lễ ngày Chúa nhật thì đông lắm nhưng cha làm một lễ bằng tiếng Pháp và một lễ bằng tiếng Bislama, là thứ tiếng trộn lẫn giữa tiếng của người bản xứ và tiếng Anh. Theo số thông kê của web site: Infoplease.com thì Công giáo chiếm 13% dân số, khoảng gần 20,000 tín hữu. và vị Giám mục bản xứ đầu tiên là Giám mục Visi-Michel. Ngài chết ngày 20/5/2007, đúng vào ngày lễ Chúa lên trời. Tại đây tôi gặp sơ Xinh, người sinh đẻ tại Noumea và đi tu năm 1965, nhà dòng chính của sơ tại thành phố Port Vila, xứ Vanuatu này. Hình như, sơ sợ chúng tôi chê nhà thờ thô sơ, trông có vẻ như ở vùng kinh tế mới, hay ở vùng sâu xa tại Việt Nam, hay vì người dân bản xứ sống đơn sơ, gần gũi thiên nhiên, sống thanh bình trong một đất nước chậm phát triển, giống như dân ta hồi xa xưa. Sơ Xinh đã vội nói với chúng tôi rằng:

- Quê hương tôi nghèo lắm! Nhưng Chúa thương, chưa ai chết vì đói bao giờ cả. Trước đây cũng thế mà bây giờ cũng thế.

Tôi tự hỏi câu nói này mang ý nghĩa gì, khi sơ nói với chúng tôi như thế? Phải chăng vi ngôi thánh đường cũ kỹ, vì chúng tôi là người đi du lịch đến từ nước Úc, hay đó chỉ là một câu than thở của một bà sơ, nhìn con chiên bản xứ sống trong cảnh nghèo nàn, không có việc làm. Tôi vội cười hòa, đáp lại bằng lời nói chân tình.

- Dù nghèo mà vui, hỏi ai không muốn yêu đời, phải không sơ.

Chúng tôi chào sơ Xinh và ra về sau thánh lễ, ăn cơm chiều, uống bia ngồi câu cá ngay đằng sau nhà cho đến khuya, nhưng chẳng bắt được con cá nào, mặc dù cá to nhảy lên khỏi mặt nước, trước mặt chúng tôi.

 

Chúa nhật 23/11/08

Gỏi cá, gà luộc. Anh em chúng tôi bàn tính với nhau là hôm nay chúng tôi sẽ nghỉ ngơi ở nhà, tiện thể người cháu của chúng tôi có nhờ người lái xe buýt mua giùm cho ba con cá biển và hai con gà chân vàng nuôi trong vườn. Chúng tôi quyết định làm món gỏi cá và gà luộc cho thức ăn ngày Chú nhật. Món gỏi cá tươi ngon tuyệt, nhân tiện có hai vợ chồng bác Đại đến thăm chúng tôi, nên mọi người được thưởng thức món gỏi do anh em chúng tôi đảm trách. Dân nhậu làm đồ nhậu thì còn chê vào đâu được nữa, thịt cá đã tươi ngon lại thêm đủ loại là như đọt xoài, lá đinh lăng, khế chua, rau thơm cộng với nước sốt chấm cá rất ngon khiến mọi người được bữa ăn ngon miệng và chúng tôi uống rượu Cognac đến mềm môi.

 

Thứ Hai 24/11/08

Thác nước nhiều tầng. Hôm nay, chúng tôi lại thuê người lái xe buýt chở chúng tôi về phía Tây Bắc của Port Vila, để đi thăm thác nước nhiều tầng (Cascades Waterfalls), gần làng Mele của núi Mt MacDonald. Ngọn núi này cao 647m, nằm ở giữa hòn đảo Êfatê. Vé vào cổng là 20 đô Úc cho một du khách. Người kiểm soát dùng mộc để đóng dấu vào cánh tay chúng tôi, sau khi đã nhận được tiền vào cổng. Đường đi lên thác cheo leo, những cây cóc, cây xoài, cây chuối mọc hai bên đường đi. Chúng tôi lội băng qua những con suối, nước trong veo, vượt qua nhiều nơi bằng phẳng với rau lang mọc hoang, lá to và xanh tươi. Khoảng 20 phút leo dốc chúng tôi đã đến chân thác nước. Cảnh người nối tiếp theo nhau, nắm dây đi ngược lên thác nước. Hôm nay rất đông người đến thác nước này, vì có thuyền du lịch chở người từ Sydney đến thăm đảo quốc này. Tôi nhìn thác nước lòng thấy thèm muốn đi ngược lên đỉnh thác, nhưng lại một lần nữa đôi chân của tôi lại đình công vì đầu gối của tôi đau nhức. Tôi xin đành làm người giữ dép cho mọi người, và đứng nhìn lũ trẻ thay phiên nhau nhảy xuống nước, tắm trong các vũng nước do thác nước tạo thành. Gió mát, cảnh ve kêu trên các cây phượng mọc hoang trên sườn núi, khiến hồn tôi trở về quá khứ, đi dong chơi trên con đường làng đầy hoa phượng của những tháng ngày thanh bình, trên quê hương Việt Nam thửa xa xưa. Chiều hôm nay, chúng tôi mua năm xâu cua, độ hơn ba chục con, để nấu bún riêu cua. Nhưng vì người cháu chúng tôi đã nhờ bạn bè mua tôm hùm, cua dừa, nên chúng tôi đành cho cua vào bao gạo, cột miệng bao lại và thả xuống biển. Chính vì thế mà ngày hôm sau khi kéo bao cua lên, thì hỡi ôi chúng nó đã chết tự lâu rồi. thế là hụt ăn món bún riêu cua.

 

| Giới thiệu | Trang chủ | Tin tức | Nhắn tin | Diễn Đàn | Liên lạc |
Ban biên tập : Trần Văn Minh - Trưởng ban. Ngô trọng Đức - Phụ trách kỹ thuật
Trần Minh Cảnh – Biên tập viên Vũ Hùng Cường – Biên tập viên
Liên hệ :buichu@buichu.net